Skip to main content
News from UC Davis Health System

News from UC Davis Health System

NEWS | March 18, 2014

Tham gia và phân tích các thử nghiệm lâm sàng cho người thiểu số vẫn chậm 20 năm sau khi

các nhà nghiên cứu UC Davis được ủy nhiệm của liên bang thúc đẩy việc tuyển dụng đổi mới và nỗ lực nghiên cứu

(SACRAMENTO, Calif.)

Hai mươi năm sau khi Quốc Hội ủy nhiệm các nhà nghiên cứu UC Davis đã nhận thấy rằng nghiên cứu được Viện Sức Khỏe Quốc Gia cấp kinh phí bao gồm người thiểu số, ít hơn 5 phần trăm những người tham gia thử nghiệm không phải là người da trắng, và ít hơn 2 phần trăm những công trình nghiên cứu ung thư lâm sàng tập trung vào các nhóm dân tộc hoặc chủng tộc không phải người da trắng.

Moon Chen © UC Regents Moon Chen © UC Regents

Những phát hiện đặc biệt đáng lo ngại khi gánh nặng về bệnh ung thư gia tăng trong dân số đa dạng ngày càng tăng, chiếm đa số ở California, Texas, Hawaii, New Mexico, Washinton, D.C. và Puerto Rico và các chênh lệch liên quan về tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư thậm chí còn trở nên nổi bật hơn. Các thử nghiệm lâm sàng được xem là thiết yếu cho việc phát hiện và phát triển các loại thuốc và phương pháp điều trị tốt hơn cho bệnh ung thư, và việc tham gia vào các thử nghiệm đã cho thấy làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư ở những bệnh nhân với một số loại khối u.

Với sự lãnh đạo của Giáo Sư Moon Chen, các nhà nghiên cứu ở Trung Tâm Ung Thư Toàn Diện UC Davis đã kiểm tra các trích dẫn trực tuyến từ các ấn phẩm y tế nhằm xác định mức độ thường xuyên các dữ liệu dựa trên người thiểu số trong các thử nghiệm lâm sàng được báo cáo và phân tích.

Giáo sư Chen giải thích rằng cũng như những nỗ lực đã được thực hiện từ nhiều thập kỷ trước để tăng sự tham gia của phụ nữ vào nghiên cứu lâm sàng, việc nhấn mạnh nghiên cứu và các thử nghiệm lâm sàng tập trung vào người thiểu số là cần thiết nhằm tăng cường sự tham gia của tất cả các quần thể chủng tộc/dân tộc vào những nghiên cứu lâm sàng ung thư.

“Tỷ lệ người thiểu số trong nghiên cứu lâm sàng vẫn rất thấp và chưa mang tính đại diện cho dân số Hoa Kỳ mắc ung thư”, Giáo Sư Chen, ủy viên quản trị tham dự kiểm soát ung thư của trung tâm ung thư cho biết. “Cần phải nỗ lực có tính toán. Người thiểu số không hẳn khó tiếp cận. Họ hầu như không được tiếp cận.”

Nhằm đánh giá việc tham gia của người thiểu số vào các thử nghiệm lâm sàng, Giáo Sư Chen và đồng nghiệp đã tìm kiếm tại ClinicalTrials.gov, trang web chính thức của NIH cho tất cả các thử nghiệm lâm sàng đã đăng ký, và tìm kiếm các thử nghiệm được Viện Ung Thư Quốc Gia tài trợ sẵn có trong thời gian tháng 1 năm 2013. Họ đã tìm kiếm bằng cách sử dụng những thuật ngữ cho các nhóm người thiểu số khác nhau sau đó đếm số lượng các thử nghiệm lâm sàng tập trung chủ yếu vào một quần thể người thiểu số hoặc dân tộc cá biệt. Họ phát hiện ra chỉ khoảng 150 thử nghiệm trong số khoảng 10.000, hay ít hơn 2 phần trăm, đáp ứng tiêu chí này.

Họ cũng xem xét các tóm tắt và bài báo truy cập từ tháng 1 đến hết tháng 3 năm 2013 trên PubMed, một cơ sở dữ liệu trực tuyến toàn diện về các phát hiện nghiên cứu được công bố để tìm các bài báo xem xét cụ thể số dồn tích người thiểu số ở các thử nghiệm lâm sàng. Trong số 42 trích dẫn được tìm thấy, chỉ có năm trích dẫn bao gồm các báo cáo thảo luận rõ ràng mức độ tham gia theo chủng tộc và dân tộc. Những báo cáo này cho thấy sự gia tăng “đáng khích lệ nhưng chưa tối ưu” chi tiết của chủng tộc hoặc dân tộc trong các kết quả thử nghiệm lâm sàng được công bố.

Nhìn chung, các tác giả báo cáo rằng việc tham gia của người thiểu số trưởng thành không tỷ lệ thuận với đại diện của họ trong dân số Hoa Kỳ. Việc tham gia thử nghiệm lâm sàng là thấp đối với tất cả các nhóm người trưởng thành (3 đến 5 phần trăm) và tỷ lệ phần trăm người thiểu số tham gia các thử nghiệm lâm sàng không mang tính đại diện cho dân số Hoa Kỳ bị ảnh hưởng bởi bệnh ung thư. Ví dụ: người da đen có tỉ lệ mắc ung thư cao nhất (593,7 trường hợp trên 100.000 người) nhưng cùng với người Mỹ gốc La Tinh, có tỷ lệ tham gia thử nghiệm lâm sàng ung thư thấp nhất là 1,3 phần trăm.

Ngược lại, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng 60 phần trăm các bệnh nhân dưới 15 tuổi được ghi danh vào thử nghiệm lâm sàng, và sự tham gia của người thiểu số ở trẻ em là rất tốt, bằng hoặc lớn hơn tỷ lệ của họ trong dân số.

Các tác giả cho biết trong nghiên cứu rằng tỷ lệ tham gia theo quần thể chủng tộc/dân tộc vào các thử nghiệm lâm sàng ở trẻ em cho thấy có khả năng đạt được tỷ lệ tương tự trong các thử nghiệm lâm sàng đối với người lớn.

Giá trị của việc người thiểu số tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng ung thư đã được ghi lại tốt trong hồ sơ, theo Karen Kelly, ủy viên quản trị tham dự nghiên cứu lâm sàng ở Trung Tâm Ung Thư Toàn Diện UC Davis và đồng tác giả.  Bà trích dẫn một ví dụ là quan sát thấy một đột biến di truyền nhất định dự đoán tính đáp ứng với trị liệu qua đường miệng gọi là EGFR-TKI được tìm thấy thường xuyên ở các khối u phổi của các bệnh nhân Châu Á hơn là các bệnh nhân Châu Mỹ. Kết quả cho phép hoàn thành nhanh chóng một nghiên cứu ngẫu nhiên lớn được thực hiện chủ yếu ở các nước Châu Á chứng minh tính vượt trội của EGFR-TKI so với hóa trị liệu truyền thống và thay đổi cách điều trị bệnh ung thư phổi trên toàn thế giới. Điều thú vị là tác dụng phụ của EGFR-TKI thường gặp ở các bệnh nhân Châu Á hơn ở các bệnh nhân người da trắng. Dữ liệu cho thấy sự khác biệt về dân tộc và địa lý đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh bệnh ung thư và việc chuyển hóa thuốc.

“Trong ung thư phổi, chúng tôi đã được mở mang tầm mắt”, Kelly nói. “Các thử nghiệm lâm sàng trong các quần thể đa dạng có thể giúp chúng tôi hiểu được tính sinh học của bệnh và tại sao thuốc có thể sản sinh tỷ lệ đáp ứng và độc tố cao hơn ở nhóm này so với nhóm khác. Ngoài ra bằng cách nhắm vào quần thể có nhiều khả năng nhất được hưởng lợi từ phương pháp điều trị mới, chúng tôi có thể tập hợp các bệnh nhân nhanh hơn vào các thử nghiệm lâm sàng mà sẽ dẫn đến kết quả nhanh hơn.”

Các tác giả thừa nhận rằng rào cản đối với việc tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng vẫn còn tồn tại trong người thiểu số bao gồm sự thiếu tin cậy, chi phí, đi lại và khác biệt về văn hóa. Nhưng họ cũng trích dẫn nghiên cứu chứng minh rằng không có mối tương quan nào giữa nhận thức và sẵn sàng tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng.

Một cách thức mà Trung Tâm Ung Thư Toàn Diện UC Davis đang giải quyết vấn đề là với một chương trình mới cung cấp cho mọi bệnh nhân ung thư người Mỹ gốc Á các tư liệu giáo dục về thử nghiệm lâm sàng nhạy cảm với văn hóa và người định hướng cho bệnh nhân được đào tạo đặc biệt cho những người ghi danh thử nghiệm. AACES, hay Nghiên Cứu Giáo Dục về Ung Thư cho Người Mỹ Gốc Á, đã được Mạng Lưới Người Mỹ Gốc Á về Nhận Thức, Nghiên Cứu và Đào tạo về Bệnh Ung Thư phát triển, tọa lạc tại trung tâm ung thư.   

“Giải pháp này không thay đổi thái độ của người thiểu số nhưng thay vào đó đảm bảo quyền tiếp cận nghiên cứu  sức khỏe”, các tác giả tranh luận. Họ kết luận rằng các thử nghiệm lâm sàng cần được thiết kế để bao gồm và tập trung vào các quần thể riêng biệt, và các tạp chí khoa học cần nhấn mạnh vào tỷ lệ đại diện phù hợp và các phân tích nghiên cứu được NIH tài trợ theo chủng tộc và dân tộc.

“Bất cứ điều gì xảy ra trong phòng thí nghiệm hoặc trong phòng khám cần phải được áp dụng cho việc giải quyết các vấn đề thực tế và các vấn đề liên quan đến các tác động không cân xứng của bệnh ung thư và các bệnh khác tới các dân tộc và chủng tộc thiểu số ,” Giáo sư Chen nói.

Nghiên cứu này được Viện Sức Khỏe Người Thiểu Số và Bất Bình Đẳng Y Tế Quốc Gia, trợ cấp số 1U24 MD006970, và Viện Ung Thư Quốc Gia, trợ cấp số U54CA153499, tài trợ.

Trung Tâm Ung Thư Toàn Diện UC Davis là trung tâm duy nhất được Viện Ung Thư Quốc Gia chỉ định phục vụ cho Central Valley và vùng nội địa Bắc California, khu vực có hơn 6 triệu người. Các chuyên gia của trung tâm cung cấp dịch vụ chăm sóc tận tình, toàn diện cho hơn 10.000 người trưởng thành và trẻ em hàng năm, và cung cấp tiếp cận với hơn 125 thử nghiệm lâm sàng ở bất kỳ thời điểm nhất định nào. Chương trình nghiên cứu đổi mới của trung tâm thu hút sự tham gia của hơn 280 nhà khoa học tại UC Davis, Phòng Thí Nghiệm Quốc Gia Lawrence Livermore và Phòng Thí Nghiệm Jackson (JAX West), sự hợp tác về khoa học của họ giúp phát triển việc phát hiện các công cụ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư. Thông qua Mạng Lưới Chăm Sóc Ung Thư, UC Davis cộng tác với các bệnh viện và trung tâm lâm sàng trong toàn Central Valley và Bắc California để cung cấp các dịch vụ chăm sóc ung thư mới nhất cho cộng đồng. Các chương trình tiếp cận và giáo dục tại cộng đồng của UC Davis giải quyết các khác biệt về kết quả ung thư ở các quần thể đa dạng. Để biết thêm thông tin, hãy truy cập vào http://cancer.ucdavis.edu.